Sưu Tủy ca – Tử Bình
Tạo hóa trước tiên xem nhật chủ,
Tiếp sau là nắm đề cương phân.
Tứ trụ chuyên luận lấy Tài Quan,
Thân vượng Tài Quan nhiều phú quý.
Còn nếu thân vượng Tài Quan tổn,
Chỉ là cầu xin lấy mà thôi.
Tài Quan vượng thời nhật chủ cường,
Sao ngờ áo tím thắt lưng vàng?
Tài Quan vượng mà nhật chủ nhược,
Vận hành thân vượng là đứng đầu.
Nhật chủ vượng mà Tài Quan nhược,
Vận nhập Tài Quan lấy lợi danh.
Nhật chủ tọa dưới có Tài Quan,
Nguyệt lệnh lại gặp quý không khó.
Phú quý Tài Quan là tổng luận,
Thiếu niên phú quý lộc lên cao.
Thân vượng vô y lại di dời tổ,
Không dời chỗ chết ở nơi khác.
Tài Quan nhược mà thân thái vượng,
Thái vượng vô y nhận cô hàn,
Lại có Ấn đến trợ Tỉ Kiếp,
Là có thể thương thê khắc tử.
Quan Sát thái trọng thân lại cường,
Một khi gặp chế lấy hiền lương.
Sát Quan củng Ấn quý không ít,
Hiển hách uy danh định chấn dương.
Sinh ở mùa Hạ hỏa thổ nhiều,
Lợi gặp thủy giúp quý trung hòa,
Gốc thủy hỏa đến phải ký tể,
Quản giáo danh lợi trấn sơn hà.
Hỏa nhiệt viêm viêm như không thủy,
Vận hành đất thủy cũng thành tốt,
Thế thủy cuồn cuồn nếu không thổ,
Vận nhập đất thổ sẽ thành tốt.
Đông phương mộc nhiều phải Tây vận,
Tây phương kim vượng thích Đông hành,
Ngũ hành tương tế thành tạo hóa,
Sinh mệnh gặp đây phúc không khinh.
Tam Khâu Ngũ Mộ lo gặp nhiều,
Cốt nhục tham thương tổn lục thân.
Đề cương hình xung khắc cha mẹ,
Ngày giờ đối xung khắc vợ con,
Tỉ Kiếp Thương quan nếu lại vượng,
Không những khắc vợ lại hại con,
Dẫu có một con cũng bất hiếu,
Hoặc xin nuôi cũng không nên.
Thân vượng Tỉ kiên tọa Dịch Mã,
Anh em phiêu bồng tự nhiên tốt,
Bát tự tứ Mã cùng Giao Trì,
Thân vinh lao khổ đi khắp nơi,
Nếu được thân nhàn tâm vô định,
Động thì phong lưu tĩnh thì đau,
Tài tinh nhập khố vợ keo kiệt,
Thủ xem tiền của không làm người,
Nếu là Tài tinh tọa tứ mã,
Vợ hiền không chỗ không vui vẻ.
Vợ con keo kiệt thêm hòa hợp,
Chỉ sợ ám tàng Dương Nhận phá,
Trùng trùng Quan Sát không mang Tài,
Có vợ trợ giúp không hài hòa,
Bất kính cha mẹ vợ vô lễ,
Lại đoạt quyền chồng mệnh an bài.
Quan tinh nhược nếu cùng gặp sinh vượng,
Lại được trường sinh vượng ở giờ,
Con cái thông minh lại xinh đẹp,
Mỗi người con cháu được vinh quang.
Nhật chủ Thất Sát mang Kiêu thần,
Vợ chủ hư thai đẻ non nhiều,
Kinh mạch không điều thành huyết tật,
Lại xem hành vận như thế nào?
Nam tử Kiêu Thực trùng trùng thấy,
Thân nhược ứng nhiều bệnh lao theo,
Nữ nhân Kiêu Thực không phải tốt,
Sinh khó kinh người bệnh cũng nguy.
Nữ mệnh Quan vượng kiêm Tài vượng,
Sẽ được chồng hiền còn lại tốt,
Nếu là Tài Quan đều bị tổn,
Thương phu khắc tử không chỉ lấy,
Ấn thụ sinh thân thân càng vượng,
Là người hình khắc chủ cô bần,
Nếu được Quan hiển Tài lại hiển,
Là người siêu quần mà nổi tiếng.
Nữ mệnh nếu cũng Thương quan vượng,
Tọa dưới Thương quan hội khắc phu,
Hướng gần thì thào miệng không dứt,
Trăm năm cuối cùng vẫn hình cô.
Ất Tị Canh Ngọ cùng đến Tân,
Hèm theo Nhật can đứng hàng đầu,
Lại xem tứ trụ như thế nào,
Định chủ chồng hiền mà lại quý.
Bính Đinh Tý Sửu Mậu Kỷ xuân,
Người sinh ngày này định khác nhau.
Giáp Ngọ Giáp Thân cùng Ất Dậu,
Tọa đưới Tài Quan phú quý vinh.
Đinh Hợi Mậu Tý cùng Canh Dần,
Nhật chủ gặp đây phúc không ít.
Tân Mão Bính Thân cùng Đinh Dậu,
Tài Quan ẩn trong lộ thanh danh.
Kỷ Hợi Giáp Thân thấy Canh Tuất,
Ấn thụ Tài Quan trong ám tàng,
Lại được Bính Thìn tới Nhâm Tuất,
Bốn mùa phù Ấn không tầm thường.
Giáp Tý Bính Dần và Đinh Mão,
Kỷ Tị Nhâm Thìn và Quý Tị,
Nếu là thân cùng cường nguyệt lệnh,
Hư danh hư lợi nhận phiêu bồng.
Ất Hợi Canh Thân cùng Kỷ Tị,
Tọa dưới Tài Quan cũng không có,
Thê cung con cái chỉ hư hoa,
Đông Tây Nam Bắc là thân gia.
Giáp Ngọ Mậu Tuất cùng Canh Tý,
Nữ khắc trượng phu nam khắc con,
Ất Tị Bính Ngọ cùng Đinh Mùi,
Trùng trùng Nhâm ý chủ cô cùng.
Giáp Dần Ất Mão và Mậu Ngọ,
Can chi cùng loại con không đủ,
Kỷ Mùi Canh Thân cùng Quý Hợi,
Nguyệt lệnh chớ vượng thành họa hại.
Nguyệt chủ Tài Quan Ấn thụ đủ,
Tháng giờ phù hợp phúc liên miên,
Can chi cùng loại cùng thân vượng,
Khắc tử hình thê phá tổ điền.
Nên đem tứ trụ phân cường nhược,
Chớ lấy âm dương chấp nhất nói,
Đây là ngũ hành chân diệu quyết,
Không gặp kẻ trí cớ nên truyền.
Đọc tiếp
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Ý nghĩa của 12 Địa chi theo thứ tự sinh trưởng của vạn vật
Địa chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tương tự như Thiên can,…
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Xem Bát Tự cho con định hướng tương lai: Khám phá năng khiếu và tiềm năng của trẻ
Mỗi đứa trẻ đều có những đặc điểm tính cách, sở trường và cách tiếp nhận kiến thức khác nhau.…
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Ý nghĩa của 10 Thiên can theo thứ tự sinh trưởng của vạn vật
Thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Theo thứ tự thuận, Thiên can thể…