Luận phụ mẫu, huynh đệ – Trích Thiên Tủy
Nguyên tác: Lưu Bá Ôn
Nhậm Thiết Tiều bình giảng
Phụ Mẫu
Cha mẹ hoặc rơi cùng hoặc suy, Chỗ đóng năm tháng quyết không nhỏ.
Nguyên chú: Phép Tử Bình, lấy Tài là cha, lấy Ấn là mẹ, lấy đoán cát hung, 10 có 9 nghiệm, nhưng xem năm tháng vẫn là trọng yếu. Khí năm có ích ở nguyệt lệnh, cùng năm tháng không bị tổn thương là nói hỉ thần, cha mẹ tất hưng thịnh. Tài khí năm tháng chém mất ở can giờ, trước là khắc cha; Ấn khí năm tháng chém mất ở chi giờ, trước là khắc mẹ. Lại phải nhìn linh hoạt tình thế ở trong cục, không thể chuyên luận Tài Ấn, trong đó có cơ ẩn lộ hưng vong, mà bất tất phải ở Tài Ấn. Cùng thần sinh Tài sinh Ấn, mà mở ra chỗ được tổn hay ích, cùng luận âm dương nhiều ít, không có không nghiệm
Nhâm thị viết: Cha mẹ, là gốc rễ sinh ra thân ta, là lấy đóng chỗ năm tháng, cùng biết suy tàn là không giống nhau, hầu như là phép chính lý bất dịch vậy. Nguyên chú lại lấy Tài Ấn phân ra cha mẹ, lại luận nói khắc cha mẹ, là không nắm chắc, vẫn dựa vào khe sách sai lầm vậy, nói đến cha mẹ lại có thêm chữ khắc hay sao? Nay sửa đổi tang thân, hình thê, khắc tử là rất chí lý.
Như năm tháng Quan Ấn tương sinh, ngày giờ Tài Thương không phạm, thì được bề trên che chở, dưới nhận mà lấy vinh.
Năm tháng Quan Ấn tương sinh, ngày giờ hình thương xung phá, thì phá sạch tổ nghiệp, phá bại gia phong.
Năm Quan tháng Ấn, tháng Quan năm Ấn, tổ thượng thanh cao; Nhật chủ hỉ Quan, ngày giờ gặp Thương, nhật chủ hỉ Ấn, ngày giờ gặp Tài, tất bại tổ nhục tông.
Năm Tài tháng Ấn, nhật chủ hỉ Ấn, ngày giờ gặp Quan Ấn, biết là giúp cha chấn hưng gia đình.
Năm Quan tháng Ấn, nhật chủ hỉ Ấn, ngày giờ gặp Quan, mà biết định tự bản thân cha mẹ thành lập gia môn.
Năm Quan tháng Kiếp, năm Kiếp tháng Kiếp, năm Ấn tháng Kiếp, nhật chủ hỉ Tài, ngày giờ gặp Tài hoặc Thương, xuất thân nghèo khốn, mệnh tự thân lập nghiệp.
Năm Kiếp tháng Tài, nhật chủ hỉ Tài, sản nghiệp hùng hậu, nhật chủ hỉ Kiếp, là thanh cao bần hàn.
Năm Quan tháng Thương, nhật chủ hỉ Quan, ngày giờ thích Quan tất là gần với bếp lò, ngày giờ gặp Kiếp, tất phá bại. Tóm lại, Tài Quan Ấn thụ, quyết định ở năm tháng, là hỉ thần của nhật chủ, cha mẹ không phú cũng quý; là kỵ thần của nhật chủ, không bần cũng tiện, nên xem xét kỹ càng.
Huynh Đệ
Huynh đệ ai phế cùng ai hưng, Đề dụng Tài thần xem trọng khinh.
Nguyên chú: Bại Tài Tỉ kiên Dương Nhận, đều là anh em vậy. Thần phải ở đề cương, cùng so sánh Tài thần Hỉ thần khinh hay trọng, Tài Quan nhược, cả ba cùng hiển lộ vết tích cướp đoạt, anh em tất cường; Tài Quan vượng, cả ba xuất ra có công trợ giúp nhật chủ, anh em tất đẹp; thân và Tài Quan quân bình, mà cả ba ẩn đều không lộ, anh em tất quý; Tỉ kiên trọng mà hại dân Tài Sát cũng vượng, anh em tất phú. Thân nhược mà bang trợ không lộ, có Ấn mà anh em tất nhiều; thân vượng mà cả ba lại lộ, không có Quan mà anh em tất suy.
Nhâm thị viết: Tỉ kiên là anh, Bại tài (Kiếp) là em, Lộc Nhận cũng luận giống như vậy.
Như Sát vượng không có Thực, Sát trọng không có Ấn, được Bại tài (Kiếp) hợp Sát, tất được em trợ lực.
Sát vượng Thực khinh, Ấn nhược gặp Tài, được Tỉ kiên địch Sát, tất được anh trợ lực.
Tài khinh Kiếp trọng, Ấn thụ chế Thương quan, không tránh giống như Tư Mã.
Tài Quan thất thế, Kiếp Nhận làm càn, lo buồn giống như Chu Công.
Tài sinh đảng Sát, Tỉ Kiếp trợ thân, có thể ngũ chung với anh cả; Sát trọng không có Ấn, nhật chủ suy Thương lại ẩn, anh em không thể không than thở.
Sát vượng Ấn ẩn, Tỉ kiên vô khí, em tuy kính mà khiến vẫn suy.
Quan vượng Ấn khinh, Tài tinh đắc khí, anh dù có yêu mà em cũng không thành.
Nhật chủ tuy suy, Ấn vượng ở đề cương tháng, anh em hợp thành bầy.
Thân vượng gặp Kiêu, Kiếp trọng không có Quan, một thân chủ trì.
Tài khinh Kiếp trọng, Thực Thương hóa Kiếp, có thể yên ổn.
Tài khinh gặp Kiếp, Quan được lộ rõ, không xảy ra chuyện nồi da nấu thịt.
Kiêu Kiếp trọng phùng, Tài khinh Sát ẩn, không tránh khỏi đau buồn hao tổn.
Nhật chủ suy có Ấn, Tài tinh gặp Kiếp, trái lại anh em có thể hưng vinh.
Bất luận đề cương hỉ kỵ, hoàn toàn mượn nhật chủ là yêu hay ghét, cần xem xét cho thật kỹ.
Đọc tiếp
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Ý nghĩa của 12 Địa chi theo thứ tự sinh trưởng của vạn vật
Địa chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Tương tự như Thiên can,…
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Xem Bát Tự cho con định hướng tương lai: Khám phá năng khiếu và tiềm năng của trẻ
Mỗi đứa trẻ đều có những đặc điểm tính cách, sở trường và cách tiếp nhận kiến thức khác nhau.…
-
Thư viện kiến thức Bát tự - Tử vi
Ý nghĩa của 10 Thiên can theo thứ tự sinh trưởng của vạn vật
Thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Theo thứ tự thuận, Thiên can thể…